Đồng tiền Việt Nam, theo đánh giá của các nhà chuyên môn, ngoài giá trị tự thân luôn là một vật chứng tin cậy phản ứng trung thực, sinh động tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Bạn đang xem: Lịch sử tiền tệ việt nam


Trong nhiều năm qua, chủ đề tiền Việt Nam luôn thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm mà còn của nhiều tầng lớp nhân dân mong muốn tìm hiểu lịch sử phát triển, giá trị văn hóa và bản sắc của đồng tiền Việt Nam. Đã từng có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước được công bố với những thành tựu nhất định, song cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào mang tính hệ thống, bao quát toàn bộ tiền tệ Việt Nam trong lịch sử.

Nổi bật và xuyên suốt trên các đồng tiền do Nhà nước ta phát hành là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu

Vì vậy, để có cái nhìn toàn cảnh về đồng tiền Việt Nam, NHNN Việt Nam - với vai trò là cơ quan của Chính phủ có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ đã chủ trì Dự án nghiên cứu khoa học cấp Ngành về “Lịch sử đồng tiền Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển”. Dự án này là đề tài nghiên cứu cấp Bộ có quy mô lớn nhất từ trước đến nay của ngành Ngân hàng, được tiến hành một cách độc lập, khoa học, nghiêm túc, có nguồn tư liệu mang đậm dấu ấn lịch sử, công khai, chính thống, có căn cứ khoa học và độ tin cậy cao.

Căn cứ những thông tin, hiện vật đáng tin cậy, qua nghiên cứu nhóm Dự án cho rằng, điểm xuất phát của lịch sử tiền tệ Việt Nam được bắt đầu với sự xuất hiện của đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng (968-979) cho đúc và lưu hành, đánh dấu sự lên ngôi trị vì của một nhà nước, quốc gia độc lập, tự chủ. Có thể xem đây là mốc son của việc hình thành lịch sử văn hóa tiền tệ Việt Nam vì đó là những đồng tiền do chính nhà nước phong kiến Việt Nam đúc và lưu hành.

Từ thời điểm mở đầu ấy, qua các thời kỳ lịch sử, các đồng tiền Việt Nam đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển dài lâu, hết sức phong phú, đa dạng. Đồng tiền kim loại đầu tiên có hình tròn, lỗ vuông, có minh văn chữ Hán được kéo dài qua các triều đại kế tiếp Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn, Nguyễn; tiến đến loại tiền kim loại hình tròn, không lỗ, tiền thỏi nén, tiền thưởng... với các mỹ tự phong phú, sâu sắc. Đến thời Hồ đã xuất hiện các đồng tiền giấy, các loại tiền giấy với đủ kích thước, màu sắc, hoa văn trang trí và chữ in...

Kể từ đó cho đến nay, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (sau này là NHNN Việt Nam) đã thu đổi tiền cũ và tiến hành 6 lần phát hành tiền mới. Lần phát hành tiền mới gần đây nhất là tháng 12/2003 khi NHNN Việt Nam đưa vào lưu thông hệ thống tiền mới trên chất liệu polymer. Hệ thống tiền mới polymer được tiếp tục lưu thông trên thị trường cả nước từ đó đến nay, với nhiều mệnh giá; trong đó tờ có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng.

Đồng tiền Việt Nam, theo đánh giá của các nhà chuyên môn, ngoài giá trị tự thân luôn là một vật chứng tin cậy phản ứng trung thực, sinh động tình hình chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước qua các thời kỳ lịch sử.

Theo đó, từ khi xuất hiện cho đến 1945, việc tổ chức đúc, phát hành và giá trị của các đồng tiền là bằng chứng về tình hình đất nước nói chung, sự hưng vong của các triều đại, của từng vị vua trị vì các vương triều nói riêng. Đặc biệt, đồng tiền Việt Nam từ năm 1945 đến nay có thể được xem là một nguồn sử liệu quan trọng phản ánh sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng XHCN của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt, nổi bật và xuyên suốt trên các đồng tiền do Nhà nước ta phát hành là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Trong thực tiễn đời sống, hình ảnh Bác chính là giá trị thiêng liêng, luôn được nhân dân ta trân trọng là tâm bản vị của đồng tiền cách mạng Việt Nam.

Một nét độc đáo làm nên giá trị văn hóa đặc sắc của đồng tiền Việt Nam trong lịch sử đó là ở bất kỳ giai đoạn nào, các đồng tiền Việt Nam cũng đều in đậm dấu ấn bàn tay tài khéo, năng lực thẩm mỹ cao, hết sức độc đáo của những người thợ chế tác. Cùng đó, những tinh hóa, giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam, những di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đất nước, những nét sinh hoạt đậm đà phong vị Việt Nam... luôn được thể hiện nổi bật, trở thành những điểm nhấn gây ấn tượng mạnh trên các đồng tiền.

Từ góc độ tiếp cận ấy, theo đánh giá của nhóm nghiên cứu dự án có thể khẳng định, trải qua hàng nghìn năm, ngoài giá trị tự thân, đồng tiền Việt Nam xứng đáng là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo vừa phản ánh, vừa trực tiếp tôn vinh và góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam, tinh thần và con người Việt Nam.

Trên cơ sở kết quả sau 5 năm nghiên cứu vô cùng công phu của nhóm tác giả thực hiện dự án này, NHNN thực hiện biên soạn cuốn sách “Lịch sử đồng tiền Việt Nam”. Tại buổi Họp báo thông tin kết quả hoạt động ngân hàng quý I/2021 và kỷ niệm 70 năm thành lập ngành Ngân hàng, đại diện NHNN cho biết, ngày 29/4 tới đây, NHNN Việt Nam sẽ tổ chức Lễ ra mắt Cuốn sách Lịch sử đồng tiền Việt Nam.

Theo chia sẻ của Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cũng là chủ nhiệm Dự án nghiên cứu khoa học cấp Ngành về “Lịch sử đồng tiền Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển”, cuốn lịch sử đồng tiền Việt Nam đã được NHNN ấp ủ từ lâu. Có rất nhiều người ngoài đề nghị NHNN với tư cách cơ quan quản lý đồng tiền của nhà nước nên xuất bản một cuốn sách chính thống về đồng tiền Việt Nam. Hiện cũng có rất nhiều sách xuất bản tư nhân có điều kiện nghiên cứu xuất bản, tuy nhiên cuốn sách đó mỗi người đề cập một khía cạnh một góc độ, một khoảng thời gian. Còn cuốn sách này được đề cập một cách tổng thể từ khi có Nhà nước đầu tiên độc lập năm 938 khi dẹp loạn 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh thành lập nước lấy tên Đại Cồ Việt cho đến nay, tức là hơn 1.000 năm.

“Tất cả các giai đoạn đều được khái quát nhưng ở một cách nghiêm túc nghiên cứu, có căn cứ khoa học, mỗi đồng tiền có một hồ sơ riêng, phân tích đánh giá về từng đồng tiền, ý nghĩa chính trị kinh tế - xã hội của mỗi đồng tiền phát hành. Khi xuất bản cuốn sách những ai muốn nghiên cứu sâu hơn có thể đến kho lưu trữ của NHNN khai thác thêm. Đây là sự kết hợp trí tuệ của rất nhiều người ở tất cả các lĩnh vực như lịch sử, khảo cổ, bảo tàng… để có được sản phẩm”, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú chia sẻ thêm.

Với 650 trang cùng toàn bộ hồ sơ khoa học của hơn 1.200 mẫu tiền, cuốn sách là một câu chuyện lịch sử hấp dẫn, làm nổi bật giá trị văn hóa đặc sắc của đồng tiền Việt Nam. Không chỉ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn đối với ngành Ngân hàng, Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cho rằng, cuốn sách còn là nguồn tài liệu có tính giáo khoa, góp phần giáo dục, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa, kinh tế của tiền tệ Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn tham khảo quý đối với cộng đồng, các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tầm cũng như mọi người dân quan tâm đến tiền Việt Nam ở trong và ngoài nước. Đây còn là cơ sở khoa học đặc biệt quan trọng và cần thiết cho việc xây dựng Bảo tàng tiền Việt Nam trong tương lai.

LỊCH SỬ TIỀN TỆ VIỆT NAM & 6 LẦN ĐỔI TIỀN




Lần thứ ba:2/1959- 10/1960: Cuộc đổi tiền lần này được đánh giá là “ngoạn mục” nhất trong lịch sử tiền tệ Việt Nam. Vì tiền NHQG đầu tiên được in ra năm 1951 là để đổi đồng Tài chính trước đó nên hầu hết những người có tiền đổi là thuộc khu vực công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước nên đến tháng 2 năm 1959 Chính Phủ quyết định phân phối lại thu nhập và đã đổi tiền lần thứ 2 với tỷ lệ 01 đồng NHQG mới ăn 1000 đồng NHQG cũ. Với giá trị mới này, vào thời điểm từ tháng 2/1959 đến tháng 10/1960 một đồng NGQGVN bằng 1,36 Rúp Liên Xô và cũng tương đương 1,2 USD.Đến tháng 10/ 1961 đồng tiền NHQG VN ở miền Bắc được đổi tên thành đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam (NHNN VN) với cùng một mệnh giá để tránh trùng tên với đồng tiền NHQG ở miền Nam của chính phủ VNCH.




*


500 ĐỒNG tiền của VNCH= 1 đồng của tiền giải phóng
đồng tiền này, mệnh giá lớn nhất của ngân hàng VNCH chỉ đổi được 2 đồng tiền giải phóng.

Ngày 6 tháng 6 năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời CHMNVN đã ra nghị định số 04/PCT – 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Ông Trần Dương làm Thống đốc và thông qua danh nghĩa để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cũ của Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, ADB, WB.

Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hoà miền nam Việt Nam đã tổ chức cuộc đổi tiền trên qui mô toàn miền nam để đưa đồng tiền mới lấy tên là “Tiền Ngân hàng Việt Nam” (còn gọi là tiền giải phóng) vào lưu thông với tỷ lệ 1 đồng NHVN ăn 500đ tiền của chế độ cũ và tương đương với 1 USD.

Cũng chiếu theo đó đến ngày 22 tháng 9 năm 1975 thì tiền VNCH mệnh giá trên 50 đồng bị cấm lưu hành và phải đổi sang tiền mới. Tin này được loan trên đài phát thanh lúc 4 giờ sáng ngày 21 tháng 9 quy định người dân phải về nhà trước 11 giờ đêm để đợi thông báo quan trọng. Lúc 2 giờ sáng ngày 22 tháng 9 tin loan về quy định đổi tiền nhưng kéo dài thời gian giới nghiêm, thay vì chấm dứt lúc 5 giờ sáng để dân chúng đi lại được thì sẽ chấm dứt lúc 11 giờ sáng. Thời gian đổi tiền chấm dứt lúc 11 giờ đêm ngày 22 tháng 9 nên người dân chỉ có 12 giờ đồng hồ để thi hành.

– Từ Quảng Nam, Đà Nẵng vào nam thì hối suất là 500 đ VNCH = 1 đ tiền CHMNVN.

– Từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc thì hối suất là 1000 đ VNCH = 3 đ tiền CHMNVN.

Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng VNCH ra thành 200 đồng CHMNVN để tiêu dùng thường nhật (300 đồng ở Thừa Thiên). Tiểu thương có thể đổi thêm 100.000 đồng nữa. Những xưởng lớn thì hạn là 500.000 đồng. Số tiền còn lại, tối đa là 100.000 cho một gia đình và 1.000.000 đồng cho công xưởng thì phải ký thác vào ngân hàng. Trương mục sau đó bị khóa đến đầu năm 1976 mới cho phép rút 30 đồng Cộng Hoà miền nam Việt Nam mỗi tháng.

Tuy nhiên đến tháng 12 năm 1976 thì lại khóa trương mục và dân chúng không được rút tiền nữa.

Tiền mới có mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu và 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng.

Tỉ lệ hối đoái:1 USD = 1,51 đ CHMNVN (Cộng Hoà miền nam Việt Nam)1 USD = 2,90 đ NHVN. (Ngân hàng Việt Nam)


Dân quê được phép đổi theo ngạch sau:100 đồng cho mỗi hộ 2 người (50 đồng mỗi người)Hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người;Tối đa cho mọi hộ dưới quê bất kể số người là 300 đồng.

Ảnh: Một bàn đổi tiền ở Hà Nội

Ad DTT


1 đồng ngân hàng đổi được 10 đồng tài chính (đồng Cụ Hồ)

Ảnh: 10 đồng Ngân hàng Quốc Gia.


Chuyện lạ về “Giấy bạc Cụ Hồ”: Dù rách nát, “Còn cái râu Cụ Hồ là còn tiêu”.

1. Mỗi địa phương có một loại “Giấy bạc Việt Nam”

Năm 1946 Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh phát hành tiền tài chính thường có hàng chữ “Giấy bạc Việt Nam”, quốc hiệu nước VNDCCH và chân dung Bác (thường có hàng chữ “Chủ tịch Hồ Chí Minh”) mang những hình ảnh chống giặc dốt, chống giặc đói, chống ngoại xâm, liên minh công – nông – binh…. Trên tờ giấy bạc, ngoài chữ Việt và chữ Hán, thỉnh thoảng còn có thêm chữ Miên – Lào với chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính là Lê Văn Hiến hoặc Phạm Văn Đồng và chữ ký của Giám đốc Ngân khố TƯ cùng hàng chữ “Theo sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam, kẻ nào làm giả hoặc có hành đồng phá hoại tờ giấy bạc của Chính phủ, sẽ bị trừng trị theo quân pháp”.Tiền giấy gồm các loại 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng và 100 đồng. Riêng tiền 5 đ, 20đ và 100đ, có nhiều loại khác nhau do in ở các vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Giấy bạc Việt Nam tuy kỹ thuật in thô sơ, chất liệu xấu nhưng vẫn được nhân dân hoan nghênh đón tiếp, đem tiền Ngân hàng Đông Dương đến đổi với tỉ giá 1:1, nhiều tờ giấy đã rách nát nhưng dân chúng vẫn truyền nhau “Còn cái râu Cụ Hồ là còn tiêu”.

Về tiền đúc thì có 20 xu, 5 hào, 1 đồng và 2 đồng: xưởng dập tiền đồng được thành lập tại Văn Thánh (Huế) còn ở Hà Nội thì cơ sở dập tiền nhôm dưới nhà bát giác của Bảo tàng Lịch sử (Bác cổ).

2. Đồng tiền cấp tỉnh

Trước đó, ngày 23.9.1945, Nam Bộ kháng chiến, vì chưa có tiền riêng để sử dụng, Uỷ ban Hành chánh Cách mạng các tỉnh ở miền Nam như Biên Hoà, Long Xuyên, Châu Đốc, Tiền Giang, Bến Tre, Chợ Lớn, Long Phước, Rạch Giá, Hà Tiên… đã dùng tiền giấy của Ngân hàng Đông Dương nhưng đóng dấu đỏ thị thực của vùng cách mạng quản lý để sử dụng. Những tờ giấy bạc có đóng dấu cách mạng này rất có giá trị lịch sử!

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, tiền tài chính đã lưu hành rộng rãi khắp các miền đất nước nên ngày 15.5.1947 có sắc lệnh số 48.SL cho phép phát hành trên toàn cõi Việt Nam những giấy bạc 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng và 500 đồng. Tuy nhiên, chiến sự khắp nơi làm việc liên lạc giữa các địa phương và Trung ương gặp nhiều trở ngại nên…

Ở Trung bộ (Liên khu 5) theo sắc lệnh số 231, ngày 18.7.1947 cho phép phát hành các loại tín phiếu ghi quốc hiệu VNDCCH và hình ảnh Bác Hồ nhưng có hai chữ ký: Phạm Văn Đồng ký “Đại diện Chính phủ TƯ” và một chữ ký của “Đại diện Uỷ ban Hành chánh Trung bộ”, gồm các loại 1đ, 5đ, 20đ, 50đ, 100đ, 500đ và 1.000đ với hình thức tương tự Giấy bạc Việt Nam nhưng được thay bằng chữ “Tín phiếu”.

Xem thêm: Ác ma thiếu gia đừng hôn tôi phần 2 ? thiếu gia ác ma đừng hôn tôi

3. 31 cuộc họp về tài chính ngay sau ngày lập nước

Sau ngày lập nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Việt Nam DCCH non trẻ đời rất lớn, nhưng chính phủ cách mạng không chiếm được Ngân hàng Đông Dương mà chỉ tiếp quản Ngân khố TƯ lúc đó còn vỏn vẹn có 1,25 triệu piastre, trong đó có 580.000 đồng là tiền hào rách nát chờ hủy! Để khắc phục khó khăn, ngày 4.9.1945, Chính phủ ra sắc lệnh “Tổ chức Quỹ Độc lập” vận động nhân dân đóng góp. Tuần lễ vàng từ ngày 17 – 24.9.1945 đã thu được 20 triệu đồng. Hội đồng Chính phủ dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều phiên họp… chỉ kể từ 20.9 đến 31.12.1945 đã họp 78 lần trong đó có 31 lần bàn về tài chính.

Ảnh là tờ “giấy năm đồng” tiền “Giấy bạc Cụ Hồ”(Admin Lịch sử Việt Nam qua ảnh tổng hợp từ báo Đất Việt)